NHỮNG THÁCH THỨC TRONG VIỆC CUNG CẤP CHẤT DINH DƯỠNG CHO BÉ SAU KHI CAI SỮA

0
NHỮNG THÁCH THỨC TRONG VIỆC CUNG CẤP CHẤT DINH DƯỠNG CHO BÉ SAU KHI CAI SỮA.
thực đơn lót dạ cho bé 1-3 tuổi nêu thiếu dinh dưỡng và ẩm thực lan tràn thặng dư là hai thách thức lớn của bé khi đối mặt với thời kỳ cai sữa. Thành phần bữa ăn hợp lý là cách tối ưu giúp phòng tránh mất thăng bằng dinh dưỡng , Thực đơn cho bé ăn dặm   điều quan trọng là xác định nhiệt lượng nhu yếu , và chất dinh dưỡng tiếp thu hằng ngày của bé , từ đó sắp xếp số lượng và chủng loại thức ăn hằng ngày cho bé , lên thực đơn lót dạ cho bé 1-3 tuổi thật hợp lý.
đổi thay món ăn: Lên thực đơn lót dạ cho bé 1-3 tuổi
Bé từ khi ra đời đến khi bước vào thời kì lọt lòng , sẽ trải qua thời kỳ nhũ bộ và ăn dặm , sự phát triển thiên nhiên này có quy luật từ yếu tố sinh lý đến yếu tố phát triển khách quan , giá dụ tuyến nước dãi và tuyến đường ruột phát triển , quá trình mọc răng , chức năng gan , mật tụy phát triển tuyệt đối , chức năng đường ruột dần đi vào ổn định. Thực đơn cho bé Các biểu hiện khách quan này bắt đầu từ việc bé nhũ bộ mẹ , sau đó dần thay thế bằng sữa bột , ăn các thức ăn lỏng , mền như cháo , mỳ , cơm nát , bánh bao , cơm , bánh quy , món điểm tâm…Nếu cha mẹ có thể phục tùng quy luật này , phối hợp với tình hình sức khỏe của bé , để cho bé ẩm thực hợp lý , con bạn sẽ phát triển lành mạnh và Toàn thể tâm sinh lý.



Hai thời kỳ quan trọng trong việc đổi thay món ăn cho bé đó là thời kỳ bắt đầu tăng thực phẩm phụ lúc trẻ 4-6 tháng tuổi và thời kỳ dùng sữa bột thay thế sữa mẹ lúc bé 12-18 tháng tuổi. Thực đơn cho bé ăn dặm
Hai thời kỳ này không thể tách rời , là thời kì quan trọng trong quá trình phát triển của bé. thực đơn cho bé

Nhóm menu bổ não phát triển trí óc cho bé 3-6 tuổi

0

NHÓM MENU BỔ NÃO PHÁT TRIỂN TRÍ ÓC CHO BÉ 3-6 TUỔI:

thực đơn cho trẻ từ 3 đến 6 tuổi – CANH ĐẦU CÁ ĐẬU PHỤ

Nguyên liệu:

500g đầu cá vược , 300g đậu phụ , 50g nấm sò , dầu cây cỏ , muối , bột nêm gà , 5g gừng , 800 ml nước dùng.

Cách chế biến:

Đậu phụ rửa sạch cắt miếng bằng bao diêm; đầu cá làm sạch; nấm sò rửa sạch , tước thành từng sợi nhỏ.
Đặt nồi lên bếp , cho dầu ăn vào , dầu hơi sôi cho gừng và đầu cá vào chiên , sau thời gian ấy cho đầu cá vào nồi đất đổ nước lèo vào; thêm muối , bột nêm gà , để lửa to đun sôi.
sau chót thêm đậu phụ nấm , đun nhỏ lửa đến khi nước canh trong là được.
Giá trị dinh dưỡng: Đầu cá vược có hàm lượng protein cao , ít chất béo , ít cholessterol , tốt cho tim mạch.




menu CHO BÉ – CANH ĐẦU CÁ NẤU GIĂM-BÔNG.

Nguyên liệu:

800g đầu cá mè , 30g giăm-bông , 30 gam nấm hương , 15g tôm khô , 15g tỏi tây , 100 ml sữa , hành , gừng mỗi loại 20g , 10ml rượu , dầu phộng , muối , bột ngọt , hạt tiêu.

Cách chế biến:

Đầu cá bỏ mang mổ ra rửa sạch; giăm-bông cắt miếng , nấm hương ngâm nước sau thời gian ấy rửa sạch.
Đặt nồi lên bếp cho dầu ăn vào đun sôi , cho đầu cá vào ráng đều vàng 2 mặt , cho hành , gừng , rượu , sữa cùng với nước vào đun sôi , nêm muối , bột ngọt vừa ăn; đổ sang nồi đất , tiếp đó cho nấm hương , giăm-bông , tôm khô , hạt tiêu vào vặn nhỏ lửa đun khoảng nửa tiếng , đến khi đầu cá mềm , nước canh sánh thì thêm tỏi tây.

Giá trị dinh dưỡng:

Ngoài các chất dinh dưỡng như protein , canxi , sắt , phốt pho , kẽm , vitamin B1 , đầu cá còn có chất lecithin , có hiệu lực bổ não , tăng cường trí tưởng , tư duy cũng như khả năng phân tích. Sọ cá còn giàu hàm lượng acoria , và các chất béo giúp tế bào não hoạt động hiệu quả. Thường xuyên ăn đầu cá sẽ giúp trông coi não và làm chậm quá trình lão hóa của bộ não. thực đơn cho trẻ 3 đến 6 tuổi


TRỨNG CUỘN TÔM ĐẬU PHỤ:
Nguyên liệu: 1 quả trứng gà , 5 con tôm nõn tươi , 50g đậu phụ , hành , bột đao , dầu cây cỏ , muối.
Cách chế biến:
Đập trứng vào trong bát đánh đều , cho vào chảo rán vàng đều; tôm rửa sạch băm nhỏ; đậu phụ rửa sạch , nghiền nhuyễn.
Cho đậu phụ , tôm non , hành vào trộn đều , thêm một tí dầu , muối , bột đao , sau thời gian ấy dàn đều làm bộ trứng , cuộn lại đem hấp chín. Khi ăn cắt thành từng miếng nhỏ.
Giá trị dinh dưỡng: Trứng gà là một thực phẩm giàu dinh dưỡng , nồng độ axit amin trong trứng gà rất phù hợp với nhu cầu sinh lí trong thân thể con người , đễ hấp thụ , đạt hơn 98% giá trị dinh dưỡng. Tôm và đậu phụ chứa nhiều canxi.

Nhóm thực thực đơn làm tăng sữa mẹ

0
Sau khi bé chào đời , thực đơn cho bé bấy giờ cốt tử là sữa mẹ. thực đơn làm tăng sữa mẹ Mình xin mách nhỏ các mẹ trên cơ sở vận dụng nuôi con bằng sửa mẹ phối hợp với các món ăn có lợi sữa sẽ giúp cho tuyến sữa của các bà mẹ tiết ra nhiều hơn.
Sau đây là một số thực đơn làm tăng sửa cho mẹ.
CANH CÁ NẤU củ từ





Nguyên Liệu:
Đầu lý ngư 1 khúc , củ từ 150g , mần đậu cô ve , một ít rong biển.
Gia vị:
Giầu ăn , muối hạt tiêu , một ít gừng
Cách Chế Biến:
1. Đầu não lý ngư bỏ mang , rửa sạch , củ từ rửa sạch , gọt vỏ , thái miếng; mầm đậu cô ve rửa sạch.
2. Rán đầu cá chín vàng rồi gắp ra.
3. Lấy nồi khác , cho đầu cá , củ từ , gừng , rong biển , và ít nước vào đun sôi , sau đó đun nhỏ lửa khoảng 30 phút.
4. Cho mầu đậu cô ve vào nồi đun tiếp 1 phút , cho muối hạt tiêu vào là được.
Chúc các mẹ Vừa miệng có thật nhiều sửa cho con bú.
Nhóm thực đơn làm tăng sữa mẹ:
CANH XƯƠNG BÒ NẤU THẬP CẨM:

Nguyên liệu: Xương bò 500g , tròng đỏ gà , hành tây , cà rốt mỗi loại 50g , nấm , cần tây một ít.
Gia vị: Bơ tươi , hành củ , nước chanh , muối , hạt tiêu , rượu.


Cách chế biến:



1. Xương bò rửa sạch chặt miếng , cho vào nước đun qua , vớt ra rửa sạch.
2. Cho xương bò nấm hành củ , cà rốt , cần tây vào nồi , đổ một ít rượu nước , hạt tiêu , đun nhỏ lửa.
3. Cho bơ tươi , nước chanh trứng gà , muối vào bát , trộn đều rồi đổ vào nồi canh , đun lửa nhỏ đến khi xương thịt bò và rau chín mềm là được.

 

menu cho bé , bí quyết thành công của việc nuôi con bằng sữa mẹ

0
Tỷ lệ tiết sữa sau khi đẻ của sản phụ , chị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố , lên thực đơn cho bé 10 tháng tuổi để đảm bảo cung cấp đủ sửa mẹ cho bé , chứng cứ vào kinh nghiệm thực tế , các bà mẹ có khả năng áp dụng một số cách tiết sữa mẹ như sau:
01. MẸ CON NẰM CHUNG GIƯỜNG:
Bé sau khi ra đời ở bệnh viện , cố gắng để bé nằm cùng giường với mẹ. Sau khi bé ra đời , bé được ôm trong lòng mẹ , tiếp xúc với thân hình mẹ , làm tăng phú cho hình thể mẹ con và niềm tin tiết sữa Loại có vú. Học hỏi cho thấy những bệnh viện , để trẻ nằm cùng giường với mẹ , và cổ vũ người mẹ Loại có vú , trong vòng 2 năm tỷ lệ tử vong ở trẻ lọt lòng đã giảm 50% , số trẻ mắc bệnh giảm 70%. Gia chi dĩ , bệnh viện còn tiết kiệm được chi phí mua bình sữam núm sữa và sữa bột…. Có khả năng thấy , cho mẹ con nằm chung giường thừa thãi ưu điểm.



02. CHO BÉ BÚ MẸ SỚM:


Sau nửa tiếng khi bé ra đời , hãy lập khắc bế bé đến bú sữa mẹ , mặc dầu trong thời gian này , tuyệt đại đa số các bà mẹ đều chưa có sữa , nhưng việc mút sẽ kích thích hệ thống kích thích tố của tâm thần , xúc tiến quá trình tiết sữa , xúc tiến và làm tăng lượng sữa , có phẩm chất cho việc cũng cố niềm tin , Loại có vú bằng sữa mẹ của người mẹ.
Điều quan trọng trong sự Thành tựu cho bé bú sửa mẹ Ấy là mặc dầu lượng sữa tiết ra ít , nhưng trong hai tuần cần bền chí Ngày ngày cho bé bú từ 8 – 12 lần. Trong vòng từ 3 đến 5 ngày , sản phụ sẽ cảm thấy bầu ngực căng lên , bé đói lúc nào là có khả năng bú Khi đó. Bé càng mút mạnh lượng sữa càng về nhiều. Mấy ngày đầu cứ cách vài tiếng , thậm chí 3 tiếng 1 lần mẹ có khả năng cho bé bú , ban đêm cho bé bú chí ít 2 đến 3 lần. Ngoài ra nếu bé ngủ , có khả năng gọi bé dậy và cho bé bú. Qua một thời gian ngắn luyện tập , có khả năng phối hợp được việc bé bú sữa và tiết sữa của mẹ dần dần , người mẹ sẽ hình thành thói quyen Loại có vú sữa. thực đơn cho bé
ẩm thực thăng bằng hợp lý cho các bà nghĩa mẫu con bằng sữa mẹ là một trong những yếu tố quan trọng của việc duy trì sức khỏe cho bé. Tuy nhiên bất cứ thực phẩm và chất dinh dưỡng nào , đều có tính Đứng riêng ra và sử dụng một mực , nếu tiếp nhận quá ít sẽ thiếu chất ,   tiếp nhận lan tràn thặng dư sẽ gây tác dụng phụ. Ví dụ: Các nguyên tố vi lượng như I ốt , sắt , vitamin A , vitamin D đều có phạm vi sử dụng của nó , tiếp nhận lan tràn thặng dư sẽ bị ngộ độc , tiếp nhận không đủ sẽ dẫn đến các bệnh suy dinh dưỡng. Thực đơn cho bà mẹ Loại có vú cần để ý , lượng tiếp nhận các loại thực phẩm Ngày ngày , chọn lọc các loại thực phẩm thay thế cùng loại , để có được các chất dinh dưỡng từ các nguồn thực phẩm khác nhau.
03. Tư thế Loại có vú ĐÚNG CÁCH:
Muốn bé bền chí bú sữa mẹ , cần bồi bổ thói thường bú của bé ( hình thành phản xạ có điều kiện ) các bà mẹ nên áp dụng một số tư thế đúng như: Ngồi , nằm , nửa nằm nữa ngồi , thời gian cho bú từ 15 – 20 phút là được. Sau khi lựa được một tư thế ngồi hoàn toàn dễ chịu cho mình , người mẹ cần ẳm bé về phía bầu vú sắp cho bú. Đầu và thân bé cần phải thẳng hàng , đầu bé không bị gập hay xoay nghiên. Để đầu bé vào gần đầu vú sao cho bé không phải với hoặc nghiêng cổ , mới ngậm được vú. Khi bé đã mở miệng đưa đầu vú vào trong miệng bé , và kéo lại thật sát vào lòng mẹ , bụng bé áp sát vào bụng mẹ. Lợi của bé ngậm sâu vào quầng vú , càng sâu càng tốt vì bé được bú từ vú chứ không phải từ núm vú. Nếu bé nằm hoàn toàn dễ chịu , mút dài hơi , nghe thấy cả tiếng nuốt sữa và có vẽ no nê , thỏa mãn sau khi bú , có nghĩa là mẹ đã cho bé bú đúng cách.
04. ĐỂ BÉ MÚT CẠN ĐẦU VÚ:
bú sữa là một Bắt đầu làm tâm lý , phản xạ tiết sữa theo sinh lý của sảng phụ cần chí ít 3 phút. Trong quá trình bé bú sữa , 75% lượng sữa sẽ bị bé mút cạn trong 5 phút , 90% lượng sữa bị bé mút cạn trong 10 phút. Bởi thế , khi trẻ bú sữa , khi trẻ bú sữa , cho trẻ bú mỗi bên bầu vú khoảng 5 phút , như vậy lượng sữa trẻ bú rồi đây mới chứa nhiều lipid , cung cấp nhiệt lượng nhu yếu cho bé , cũng là nguồn cung cấp axít béo , cung cấp nhiệt lượng nhu yếu cho bé , cũng là nguồn cung cấp axít béo nhu yếu quan trọng cho bé. Mỗi lần bé bú sữa , cố gắng để bé mút cạn sữa trong bầu vú bên này rồi mới cho bé bú sang bên kia , mỗi lần bú sữa để bầu vú thật cạn , trong vòng 24 tiếng chí ít có ba lần trẻ mút cạn bầu vú , làm tăng lượng sửa tiết ra.
05. NGƯỜI MẸ TIN TƯƠNG VÀO BẢN THÂN:
sản phụ tránh lao động mệt mõi , hoạc bị chao đảo phú cho hình thể , người thân và hộ lý chăm nom luôn an ủi , cổ vũ họ , giúp sản phụ tràn ngập tự tin , vào bản thân rằng  mình có sữa và có khả năng nuôi con bằng sữa mẹ.
06. KỊP THỜI Sửa sang THỰC PHẨM PHỤ:
Trẻ lớn dần lên , lượng dinh dưỡng nhu yếu cũng không ngừng tăng lên , sữa mẹ không đáp ứng tươm tất nhu cầu của bé. Tuy nhiên , lượng sữa mẹ đáp ứng đủ nhu cầu cho bé ở mỗi người thường khác nhau , tuyệt đại đa số sẽ đáp ứng đủ sữa đến khi bé được 4 – 6 tháng tuổi.
Mách nhỏ: Không cho bé uống nước đường và sữa tơi:
Bé ra đời được một hai ngày , sản phụ vẫn chưa có sữa , hoặc ít sữa nên lo lắng sợ bé bị đói , muốn cho bé uống một ít nước đường hoặc sữa bột… thật ra bé bị đói sẽ dùng sức mút bầu vú , đây Ấy là dịp tốt bồi bổ thói thường mút cho bé , cũng là để kích thích sửa mẹ tiết ra nhiều hơn. Bởi thế người mẹ cần để bé mút đầu vú Hai ba lần , những kích thích này sẽ làm tăng khả năng tiết sữa và lượng sữa , không nên gấp gáp cho bé uống nước đường hoặc các thức uống khác.

Chăm sóc cho trẻ khi bị sốt

0
Việc chăm sóc ban đầu khi bé bị sốt rất quan trọng nhưng không phải ông bố, bà mẹ nào cũng biết cách chăm sóc trẻ. Chăm sóc cho trẻ khi bị sốt, trẻ em rất hay bị sốt do nhiều nguyên nhân và có thể tùy đặc tính cơn sốt mà thể hiện một tình trạng bệnh lý khác nhau.

Vậy khi trẻ sốt, các bậc phụ huynh nên làm gì để chăm sóc cho trẻ ?



 Khi bé sốt vừa – dưới 39 độ C:

Hãy cởi bớt quần áo, cho bé mặc đồ mỏng và rộng để dễ thoát nhiệt.
Cho bé nằm ở nơi thoáng mát, giảm nhiệt trong phòng.
Cho bé uống nhiều nước.
Cho bé dùng thuốc hạ sốt có chứa hoạt chất Paracetamol. Hiện nay, có nhiều thuốc hạ sốt được đặc chế dạng siro để bé dễ uống và hấp thu. Các loại này cũng có xilanh bơm thuốc chuyên dụng tính theo cân nặng của trẻ. Với các chai dạng hỗn dịch thế này, cha mẹ cần bảo quản ở nhiệt độ phòng, tránh ánh nắng trực tiếp, và để ngoài tầm với của bé.
Lau mát cho trẻ bằng nước ấm.
Khi trẻ bị sốt cao hay sốt rất cao – trên 39oC:
Sử dụng các biện pháp hạ nhiệt như trên để hạ sốt tạm thời và nhanh chóng đưa bé đến cơ sở y tế.
Theo dõi các triệu chứng của trẻ.
Khi bé bị sốt nhẹ – dưới 38 độC
Hãy thay quần áo thoáng mát cho bé hoặc nới lỏng. Bạn cũng cần lưu ý theo dõi thân nhiệt mỗi 4 giờ, đừng quên cho bé uống nhiều nước để tránh mất nước.

- Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi mà sốt trên 37,5oC
- Với trẻ lớn hơn thì khi thân nhiệt của bé từ 38,5oC trở lên
- Sốt dưới 38,5oC nhưng kéo dài vài ngày.
- Nhiệt độ lên xuống thất thường sáng, trưa, chiều, tối.
- Đang bệnh mà nhiệt độ tăng lên bất thường
- Đang sốt mà bị hạ nhiệt xuống dưới 36,5oC.
- Đã dùng thuốc hạ nhiệt theo hướng dẫn của bác sĩ nhưng triệu chứng sốt không giảm.
Tốt nhất là nên gọi bác sĩ đến nhà, nếu không có điều kiện gọi bác sĩ đến nhà thì cũng nên cho trẻ đi cấp cứu khi đã hết cơn giật, đưa trẻ đi ngay trong lúc đang giật dễ gây nguy hiểm cho trẻ. Trong lúc bác sĩ chưa có mặt, cần giữ thái độ bình tĩnh và làm một số việc sau để nhiệt độ của trẻ hạ xuống:
- Cởi khuy áo nới rộng hoặc bỏ bớt quần áo, không quấn hoặc ủ ấm cho trẻ
- Nhanh chóng đặt trẻ nằm xuống giường hoặc nơi bằng phẳng, thoáng mát, đề phòng trẻ rơi ngã hoặc va đập đầu vào các vật cứng. Người lớn nên ngồi ngay cạnh trẻ nắm tay trẻ để trẻ đỡ sợ.
- Dùng khăn nhúng vào nước mát lau khắp mình trẻ, đặc biệt là ở nách, bẹn và trán; cần lau lại nhiều lần cho đến khi trẻ hết giật.
- Dùng thuốc hạ nhiệt loại thông thường mà bé thường dùng, theo đúng liều lượng bác sĩ kê cho, lúc này tốt nhất là dùng viên dạng nhét hậu môn vì cho trẻ uống lúc này rất khó và dễ gây sặc.
- Đợi khi trẻ ngừng cơn giật thì lật trẻ nằm nghiêng sang một bên ngay, đầu hơi ngửa ra sau (tư thế an toàn) để nếu trẻ có nôn chất nôn sẽ ra ngoài mà không vào đường thở gây nguy hiểm tính mạng cho trẻ.
- Nếu không có bác sĩ đến nhà thì ngay sau cơn co giật nên cho bé đến bệnh viện để làm một số xét nghiệm giúp cho việc chẩn đoán bệnh cũng như các tổn thương do cơn giật gây ra nếu có.
Những điều không nên làm khi trẻ đang bị co giật và có sốt cao
- Không nên tìm cách chống cơn giật bằng cách giữ người trẻ, vì rất dễ gây tổn thương bộ phận, gãy xương trẻ.
- Không được cho bất cứ thứ gì vào miệng trẻ vì trẻ sẽ sặc vào phổi.
- Không được dùng vật cứng gì gang miệng trẻ, vì rất ít khi trẻ cắn phải lưỡi (nếu có cắn cũng không nguy hiểm gì) mà rất dễ gãy răng, sứt lợi, tổn thương niêm mạc miệng do vật cứng.
Bố mẹ không nên
Dùng thuốc hạ sốt ngay khi nhiệt độ của bé dưới 38oC
Phối hợp nhiều loại thuốc hạ sốt cho bé
Ủ ấm bé, sẽ càng làm tăng nhiệt độ
Lau người cho bé bằng nước đá lạnh, cồn, dấm
Vắt chanh, đổ thuốc vào miệng bé khi đang co giật, sẽ rất dễ gây ngạt thở
Tự truyền dịch cho bé mà không có chỉ định của bác sỹ


Dinh dưỡng và các chất Vitamin cho bé

0
Vitamin và khoáng chất rất quan trọng với dinh dưỡng cho bé mạnh khỏe, các nguyên nhân gây thiếu vitamin và khoáng chất là do bữa ăn cũa trẻ không đảm bảo chất lượng, ví dụ ăn phải gạo bị mốc hoặc để lâu ngày, rau quả bị héo hoặc bảo quản lạnh quá lâu, chế biến thức ăn không đúng như đun đi đun lại nhiều lần. Có nhiều loại  Vitamin  quan trọng trong chế độ ăn uống của trẻ, giúp trẻ tăng trưởng khỏe mạnh, phát triểng và hoàn thiện chức năng miễn dịch

Với nhiều các bổ sung vitamin khác nhau qua thực phẩm, đồ uống, thuốc,... các bà mẹ hãy đưa con mình đi khám sức khỏe thường xuyên để biết được con mình càn bổ sung thêm những chất gì cần thiết.

Một hệ tiêu hóa khỏe mạnh sẽ giúp cơ thể tiếp nhận thức ăn, tiêu hóa tốt từ đó hấp thu các dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
Trên thực tế, có rất nhiều bà mẹ chỉ chú trọng và đầu tư đến sự phát triển trí não mà bỏ quên nền tảng quan trọng của cơ thể là hệ tiêu hóa - cơ quan quyết định việc trẻ có thể ăn xuống, uống tiêu, hấp thu tối đa các dưỡng chất để phát triển thể chất và trí não toàn diện. Trong giai đoạn đầu đời, hệ tiêu hóa của trẻ còn non yếu, việc bắt ép trẻ ăn quá nhiều đôi khi phản tác dụng khiến trẻ tiêu hoá không kịp, dễ mắc các bệnh tiêu hoá như đầy bụng, khó tiêu và trào ngược thực phẩm. Thậm chí, khi trẻ phải ăn quá nhiều thực phẩm và dưỡng chất, đường ruột càng dễ bị tổn thương do phải co bóp quá nhiều để nghiền thức ăn. Ép con ăn quá nhiều hoặc cho con ăn theo chế độ quá kiêng khem đều không tốt cho sức khỏe của trẻ. theo các chuyên gia dinh dưỡng, quá thiếu hoặc thừa chất đều khiến trẻ, dễ mắc bệnh không cân đối, cách chăm sóc trẻ rất quan trọng. Ngoài ra, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ ở từng khu vực sống cũng khác nhau (gen, thể trạng, khả năng hấp thụ, sức đề kháng, thói quen vận động,...). do đó việc sử dụng các sản phẩm nội địa với công thức phù hợp và chất lượng cao không chỉ giúp tiết kiệm chi phí lại còn đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ.

Thiếu hay thừa Vitamin, khoán chất đều nguy hiểm.
Vitamin và khoáng chất là yếu tố cần thiết cho sự phát triển cơ thể của trẻ. nếu thiếu bé có thể chậm lớn nhưng thừa bé có thể bị ngộ độc. Cung cấp dinh dưỡng cho trẻ đầy đủ vitamin và khoán chất
Các nguyên nhân khác thường gặp ở những trẻ đẻ non sinh đôi, lớn quá nhanh nên nhu cầu vitamin cao hơn sự cung cấp hằng ngày. Ngoài ra, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đủ dưỡng chất thì ngay cả trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin và khoán chất.


 Vitamin luôn có sẵn trong thực phẩm( rau, quả, ngủ cốc, thịt, cá,...). Nếu sử dụng thực phẩm đảm bảo chất lượng, không ăn kiêng, không bị rối loạn hấp thụ ở đường tiêu hóa thì không cần bổ sung.
Sử dụng vitamin và chất khoáng bồi dưỡng dinh dưỡng cho bé.

Ai cũng biết vai trò quan trọng của vitamin đối với cơ thể dù chỉ cần một lượng nhỏ. Có nhiều loại vitamin và khoáng chất quan trọng trong chế độ ăn uống của trẻ, giúp trẻ tăng trưởng khỏe mạnh, phát triển và hoàn thiện chức năng miễn dịch. Dưới đây là những vitamin và khoáng chất quan trọng nhất đối với trẻ tuổi chập chững.
Có nhiều loại vitamin và khoáng chất quan trọng trong chế độ ăn uống đảm bảo dinh dưỡng của trẻ, giúp trẻtăng trưởng khỏe mạnh, phát triển và hoàn thiện chức năng miễn dịch. Dưới đây là những vitamin và khoáng chất quan trọng nhất đối với trẻ tuổi chập chững. 

Vitamin và các chất khoáng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ em. Các chất này có nhiều trong những thực phẩm như gạo, thịt, trứng, cá, sữa v.v. và các loại rau quả tươi như cam, chuối, đu đủ, hồng xiêm, chanh, quít, xoài, dứa, rau muống, rau ngót, xu hào, bắp cải v.v.

 Trẻ em bình thường không có bệnh tật gì, được bú mẹ và ăn uống đầy đủ chất thì thường không thiếu vitamin và chất khoáng, do vậy không cần phải bổ sung thêm những thuốc có chứa hỗn hợp các loại chất này.

Trẻ bị bệnh thì nên ăn gì ?

0
Trẻ em bị bệnh  thì nên ăn gì ? chế độ dinh dưỡng của bé ra sau?, chăm sóc bé như thế nào ? đó các câu hỏi luôn đặt ra trong đâu của bậc phụ huynh, rất nhiều mẹ lúng túng trong việc chăm ăn khi con bị ốm. Theo BS Lê Thị Hải sẽ lên cho các mẹ một thực đơn tốt nhất để bé mau khỏe. 

Khit trẻ em bị bệnh, nhiều bà mẹ cắt bớt khẩu phần ăn của bé bằng cách không cho bé uống sữa, chỉ cho ăn cháo trắng với muối; hoặc muốn bổ sung chất dinh dưỡng cho bé nhưng lại lúng túng không biết phải lựa chọn thức nào cho phù hợp.


Chế độ Dinh dưỡng khi bé bị ho

Khi ốm các bé thường rất lười ăn, đặc biệt khi bị ho bé lại rất dễ nôn trớ. Vậy mẹ phải tránh những thực phẩm nào cho bé nhanh khỏi bệnh và cách ăn ra sao để con không nôn ra hết? Khi bé bị ho, ngoài việc đi khám và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ thì cha mẹ cần chú ý đến dinh dưỡng cho bé. Khi bé ho có đờm thì món ăn nhiều nước là gợi ý hoàn hảo dành cho mẹ. Vì nước sẽ làm loãng đờm nhớt ở cổ họng bé, giúp bé không bị kích thích ho nhiều.



Trẻ bị bệnh thì nên ăn gì ?
Khi bị ốm, hệ tiêu hóa của bé cũng yếu đi đôi chút nên việc chọn những món ăn dễ tiêu nhưng cũng đầy đủ dưỡng chất như soup, cháo, sữa… đảm bảo 4 nhóm (bột, béo, đạm, rau) và phù hợp với khẩu vị hàng ngày của bé là điều các mẹ cần lưu tâm. Khi bé bị ho, ngoài việc đi khám và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ thì cha mẹ cần chú ý đến dinh dưỡng cho bé.

Bên cạnh đó, bé cũng rất cần tăng sức đề kháng để chống bệnh. Vì thế, nên cho bé ăn những thực phẩm giàu sinh tố A, giàu chất kẽm và chất sắt như các loại thịt bò, gà, trứng, rau có màu xanh, đỏ.

Các mẹ cần lưu ý một điều quan trọng nữa là khi con bị ho, nên hạn chế những món ăn chế biến có quá nhiều mỡ như chiên, xào… Đối với món cá, đôi khi bé có cảm giác tanh, dễ gây nôn, do vậy nên đợi sau khi bé hết bệnh hãy cho ăn trở lại.

Cho bé uống các loại nước ép như cà rốt, táo, nho, lê hoặc các loại sinh tố ít ngọt. Hoặc có thể tự làm nước ép cà rốt pha với mật ong (đối với bé trên 1 tuổi), hẹ chưng đường phèn cho bé uống cũng giúp giảm ho.

Các bé bị ho rất dễ nôn ra thức ăn vừa ăn vào, vì vậy các mẹ nên chia nhỏ bữa ăn thành nhiều bữa, đừng ép con ăn quá nhiều một lúc. Bên cạnh đó, trước khi cho bé ăn nên cho uống vài thìa nước, sau đó cho bé nằm sấp rồi vỗ về lưng bé nhằm giúp đờm nhớt không còn đọng ở cổ bé. Điều này giúp bé đỡ ho và không bị nôn khi ăn.

Dinh dưỡng cho bé tiêu chảy

Đặc điểm của bé bị tiêu chảy là cơ thể mất nước rất nhiều, vì vậy bên cạnh việc cho bé uống dung dịch bù nước Oresol, các mẹ nên cho con uống nhiều nước (nước lọc, nước canh).

Có nhiều mẹ quan niệm khi con bị tiêu chảy không nên cho ăn nhiều vì ăn vào bao nhiêu thì ra hết bấy nhiêu, chỉ nên ăn cháo trắng và muối. Theo bác sĩ Hải điều này là hết sức sai lầm, cha mẹ không những không được bắt con ăn kiêng mà cần phải bổ sung nhiều chất dinh dưỡng cho bé.

Với bé dưới sáu tháng tuổi, tiếp tục cho bé bú sữa mẹ nhiều lần hoặc bú sữa bình, người mẹ cần ăn nhiều đạm (thịt, cá) và hạn chế ăn chất xơ như rau xanh.

Một số loại quả bé bị tiêu chảy có thể ăn như: đu đủ, hồng xiêm, chuối, xoài, táo, lê…

Còn với bé trên sáu tháng tuổi, cần bổ sung các thực phẩm giàu đạm, bột đường và vitamin như gạo, thịt lợn, thịt gà, cá, trứng, cà rốt, khoai tây… và chế biến thành những thức ăn dạng lỏng, dễ tiêu. Thịt gà và cà rốt đặc biệt tốt cho những bé bị tiêu chảy.

Có một điều các mẹ chăm bé bị tiêu chảy cần đặc biệt chú ý là trong thời gian bé bị tiêu chảy nên giảm các thực phẩm giàu chất xơ; tinh bột nguyên hạt như ngô, đậu; thức ăn có nhiều đường; thức uống có gas vì không những khó tiêu mà còn làm cho bé bệnh nặng thêm.

Dinh dưỡng cho bé bị sốt

Khi bé bị sốt cơ thể cũng mất nhiều nước và khả năng tiết nước bọt giảm, vì vậy nguyên tắc đầu tiên mẹ chăm con bị ốm cần lưu ý là thường xuyên bổ sung nước cho con.

Theo bác sĩ Hải, với bé đang bú mẹ thì mỗi ngày cần ít nhất 150ml cho mỗi cân nặng. Với bé không còn bú, hãy cho bé uống nhiều nước, ăn hoa quả hoặc uống nước hoa quả như nước chanh, cam, dừa, bưởi, uống sữa hoặc ăn sữa chua để cung cấp thêm vitamin A và C đã mất do đi tiểu nhiều.

Thêm một lưu ý cho bé còn đang bú mẹ là trước khi cho con bú, mẹ nên cho bé uống nước, vì nếu cơ thể mất nước bé sẽ bỏ bú.

Đối với những bé đã ăn thức ăn bổ sung, mẹ nên cho bé ăn thức ăn loãng, dễ tiêu nhưng vẫn cung cấp đủ chất béo và đạm như cháo đậu xanh nấu thịt, cháo hành nấu thịt, súp gà, súp cua.

Và một nguyên tắc chung với tất cả các bé bị ốm là mẹ nên chia nhỏ bữa ăn thành nhiều bữa trong ngày, mỗi lần chỉ 1/3 bát và chỉ cho bé ăn khi đã hạ sốt.



Dinh dưỡng cho bé bị ngạt mũi hoặc sổ mũi


Bác sĩ Hải cho biết rất ít mẹ biết cách chăm con ăn khi bé bị ngạt mũi hoặc sổ mũi vì nghĩ dinh dưỡng không mấy liên quan đến bệnh này.
Có 2 lưu ý hữu ích khi chăm bé ngạt mũi hoặc sổ mũi các mẹ nên biết, đó là:

- Cần cho bé uống nhiều nước lọc, nước ép quả nhưng chỉ uống nóng và không được uống lạnh vì uống nóng sẽ giúp bé thông hơi và giảm chảy nước mũi.
- Ăn các món soup, cháo, canh nóng cũng giúp thông hơi và giảm chảy mũi. Tránh cho bé ăn những thực phẩm nhiều đường vì sẽ làm cho bệnh nặng hơn.
Theo: GiaDinh


Các loại thực phẩm không thể thiếu trong giai đoạn phát triển của trẻ

0
 thực phẩm không thể thiếu trong giai đoạn phát triển của trẻ
 thực phẩm không thể thiếu trong giai đoạn phát triển của trẻ
Các loại thực phẩm không thể thiếu trong giai đoạn phát triểncủa trẻ. Các bậc làm cha mẹ muốn cho trẻ được thông minh, khỏe mạnh và phát triển  một cách toàn diện thì bên cạnh các yếu tố di chuyền, phương pháp giáo dục, môi trường sống, các bậc cha mẹ cần xây dựng cho trẻ một chế độ dinh dưỡng hợp lý, đây là yêu tố vô cùng quan trọng giúp trẻ tăng trưởng khỏe mạnh, và phát triể các chức năng. Các loại thực phẩm dinh dưỡng cho bé sau đây giúp cho bé có đủ dưỡng  tăng cường sự phát triển của trẻ đặc biệt là về trí não.


Các Loại Rau Củ: Rau củ và quả đều chứa muối vô cơ (kali, canxi, natri...) và nhiều vitamin thiết yếu khác. Những dưỡng chất này có sẵn trong hoa quả, rau đậu nhưng lại bị thiếu hụt với thực phẩm nguồn gốc động vật và các loại ngũ cốc. Tuy nhiên ở trong rau, hàm lượng muối vô cơ và vitamin thường phong phú hơn hoa quả. Ví dụ: Trong 100g hẹ chứa 56mg vitamin C nhưng trong 100g quả lê hoặc chuối chỉ chứa khoảng 4mg vitamin C.

Một điều khác biệt nữa là trong rau tồn tại nhiều chất xơ hơn hoa quả, đây là chất giúp phòng ngừa táo bón và giảm bớt sự hấp thu độc tố trong cơ thể.
Hạt Ngũ Cốc: Đây là nguồn cung cấp dinh dgỡng cho bé không thể thiếu để trẻ vận động, tăng trưởng và phát triển. Hơn nữa, trong các loại ngũ cốc này còn chứa vitamin nhóm B (có vai trò lớn trong hoạt động chuyển hóa), folate (giúp phòng ngừa bệnh tim mạch).

Ngũ cốc chứa acid folic, vitamin B12 và vitamine B6 giúp trí óc minh mẫn, duy trì chế độ làm việc tốt. Chúng ta nên thường xuyên sử dụng thực phẩm làm từ ngũ cốc như bánh mì, đậu nành... để cung cấp đầy đủ lượng vitamin cần thiết cho các tế bào thần kinh cung cấp đủ dinh dưỡng cho bé phát triển trí não.
 Dầu cá - Các loại cá : Cá còn là nguồn phong phú các dưỡng chất thiết yếu, như tryptophan, vitamin D, selen, vitamin B3, B6, B12, photpho và magie. Thành phần chính của dầu cá chứa hai axit béo omega-3 là eicosapentaenoic (EPA) và docosahexaenoic (DHA). Bên cạnh những lợi ích to lớn mà các loại chất béo này mang lại, các chuyên gia cho biết, cá hồi còn chứa nhiều dưỡng chất thiết yếu khác có thể giúp tăng cường sức khỏe toàn diện của cơ thể cung cấp đủ dinh dưỡng cho em bé.

Não là một bộ phận của cơ thể con người “tiêu thụ” nhiều DHA nhất. Não của một người lớn trung bình chứa hơn 15g DHA. Thiếu DHA có nguy cơ dẫn tới bệnh trầm cảm. Dầu cá hồi rất tốt cho não bộ. Các nghiên cứu cho thấy, bổ sung đủ lượng dầu cá hợp lý cho cơ thể sẽ làm hạn chế nguy cơ mất trí nhớ và suy giảm các chức năng cảm nhận khi về già.
Các loại đậu : Hạt đậu là nguồn dinh dưỡng cho bé rất phong phú, ngon mà lại rẻ tiền. Ðậu nành cung cấp đủ các loại amino acid thiết yếu mà cơ thể cần. Ðậu có nhiều calcium, cho nên các vị tu hành, người ăn chay có thể sống lành mạnh chỉ với đậu hũ và các sản phẩm khác của đậu nành. Nói chung, các loại đậu có lượng đạm chất cao hơn các các loại ngũ cốc khác từ hai đến năm lần.

Hạt đậu có nhiều sinh tố nhóm B, nhiều sắt, potassium, rất nhiều chất xơ. Ða số hạt đậu đều có rất ít chất béo và calories, ngoại trừ đậu nành và đậu phụng lại có nhiều chất béo lành bất bão hòa.





Dinh dưỡng cho trẻ dưới 12 tháng tuổi

0
Giai đoạn trẻ từ 6-12 tháng tuổi chế độ dinh dưỡng là điều cần thiết  đối với  sự phát triển của trẻ, sữa là nguồn thức ăn quan trọng nhất cho sự phát triển củ trẻ nhỏ, sữa cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết và phù hợp với nhu cầu của bé. Bé cần bao nhiêu sữa mỗi ngày? Khi được 6 tháng tuổi, bé uống khoảng 1.000 ml sữa mỗi ngày. Ở giai đoạn từ 6-12 tháng tuổi bé cần uống khoảng 750 ml sữa mỗi ngày. Bạn bắt đầu tập cho bé ăn dặm, chậm chậm từng chút một, bạn sẽ tăng dần lượng bột ăn dặm và giảm dần lượng sữa cho bé.  Trong 4-6 tháng đầu tiên, bé chỉ bú sữa. Nhưng trong 6 tháng tiếp theo, bé bắt đầu ăn dặm và đến khi 1 tuổi bé đã ăn được hầu hết các thức ăn như người lớn. Sự chuyển tiếp này là một vấn đề lớn vì cả mẹ và bé cần làm quen dần với khái niệm bữa ăn gia đình. Để giải quyết vấn đề này, bạn cần cho trẻ ăn dặm từng bước để trẻ có thời gian làm quen với thức ăn mới, và bạn cần nhớ rằng sữa vẫn là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất cho trẻ. Bạn nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ và dùng bổ sung thêm sữa công thức phù hợp với độ tuổi của trẻ.
Dinh dưỡng cho trẻ dưới 12 tháng tuổi
Dinh dưỡng cho trẻ dưới 12 tháng tuổi


Lần đầu tiên bé nếm hương vị thức ăn thật sự. Học ăn là cả một nghệ thuật: thức ăn, phản xạ nhai nuốt, bàn ăn, thức ăn rơi vãi... Những bữa ăn đầu tiên bạn nên sắp xếp để cả gia đình cùng quây quần xung quanh bàn ăn, khích lệ và tự hào với từng muỗng ăn của bé.

Bé có thể ăn được những thức ăn gì?

- Bột ăn dặm hay là bột nấu trong những tháng đầu tiên. Cho bé ăn từ lỏng đến đặc dần.

- Từ tháng thứ 9 bé có thể tập ăn cháo nghiền rồi chuyển sang cháo đặc.

Nên chuẩn bị thức ăn cho bé như thế nào?

- Nếu là bột ăn dặm đóng hộp: bạn nên pha chế đúng theo hướng dẫn trên bao bì.

- Nếu bạn tự nấu cho bé: phải đảm bảo đầy đủ 4 nhóm chất đạm, bột đường, dầu ăn và rau củ tươi các loại. Khi bắt đầu nên cho bé ăn thức ăn nhuyễn hoàn toàn, thức ăn cho bé nên xay nhuyễn cho bé dễ ăn. Đến khi bé đã ăn thuần thục thức ăn nhuyễn, bạn chuyển sang cho trẻ ăn thức ăn nghiền hay băm nhỏ để tập cho bé nhai.

Bé cần ăn bao nhiêu là đủ?

- Bé sẽ bắt đầu bằng bột lỏng, cho bé ăn trong vài ngày, khi bé đã quen với thức ăn này thì chuyển sang thức ăn khác. Nếu bé không thích thức ăn mới thì bạn có thể cho bé ăn lại thức ăn cũ, bé co thể ăn 1 loại thức ăn trong nhiều tuần hay tháng tùy theo nhu cầu và ý thích của bé.

- Từ 6-9 tháng sữa vẫn sẽ chiếm khoảng ¾ tổng lượng thức ăn bé cần mỗi ngày. Sang tháng thứ 9, bưã ăn dặm và lượng sữa sẽ bằng nhau

- Khi bé được 12 tháng: cho bé tập ăn 3 bữa chính (sáng, trưa, chiều) cùng gia đình và 3 bữa ăn phụ giữa các bữa chính và trước khi đi ngủ.

Có thể phối hợp thức ăn dặm với sữa?

- Trong suốt giai đoạn 6-12 tháng tuổi, sữa vẫn là thành phần quan trọng nhất trong khẩu phần ăn hàng ngày của bé. Trộn sữa vào trong thức ăn dặm cũng là 1 cách rất có ích để bé làm quen với thức ăn đặc và các hương vị mới cũng như đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho bé.

Các loại thức ăn nào an toàn cho bé?

- Thịt: lựa chọn các loại thịt ít mỡ hay bỏ bớt mỡ. Từ tháng 6-8 nên cho bé ăn thịt gà, cá. Sau 8 tháng bé ăn được tất cả các loại thịt, khoảng 1 muỗng canh mỗi bữa.

- Bột đường: là các loại bột gạo, bột ngũ cốc.

- Rau củ: cho bé ăn tất cả các loại rau, khi bé mới bắt đầu tập ăn dặm nên tránh các loại rau củ có thể làm bé bị đầy bụng khó tiêu như các loại rau giàu nitrate (như rau diếp, củ cải đường, bắp cải, cần tây...), tháng thứ 9-10 bé có thể ăn các loại rau này nhưng hạn chế ăn chỉ ăn 1-2 lần/tuần.

- Dầu mỡ: nên cho bé ăn các loại dầu thực vật, hạn chế ăn mỡ động vật.

- Trái cây: bé có thể ăn tất cả các loại trái cây, bạn có thể bắt đầu bằng nước ép trái cây tươi pha loãng, rồi đến nước ép trái cây tươi nguyên chất, nước ép cả bã và bé có thể ăn trái cây cắt miếng nhỏ.

Trên thực tế, sẽ có những trường hợp ngoại lệ nên những thông tin này chỉ là những hướng dẫn, không nên xem đây là những nguyên tắc để áp dụng vì bạn là người biết rõ bé nhất về nhu cầu và thói quen ăn uống của bé.


Dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ từ 1- 3 tuổi

0
Nhu cầu về dinh dưỡng cho bé  ở lứa tuổi 1-3 tính theo trọng lượng cơ thể thì cao hơn so với người lớn. Tuy nhiên, do bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh nên trẻ rất dễ bị rối loạn tiêu hóa nếu nuôi dưỡng không đúng. Còn nếu ăn không đủ, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng. Vì vậy , Dinh dưỡng cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi cho sự phát triển thể chất và tinh thần sau này.


Đây là lứa tuổi phát triển rất nhanh cả về thể lực và trí tuệ. Chiều cao của trẻ lúc 2 tuổi đúng bằng 1/2 lúc trưởng thành. Vì vậy, việc nuôi dưỡng tốt ở tuổi 1-3 sẽ làm đà cho sự phát triển ở giai đoạn tiếp theo.


Về năng lượng, trẻ cần khoảng 100-110 Kcal/kg cân nặng mỗi ngày, được cung cấp qua các bữa ăn như bột, cháo, cơm nát, bún… nấu với các loại thức ăn cung cấp chất đạm như: thịt, trứng, cá, tôm, cua, đậu, đỗ, lạc vừng. Ngoài ra, dầu mỡ trong bữa ăn cũng là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng. Một ngày trẻ nên ăn 150-200 g gạo, nếu đã dùng bún, mỳ, phở thì rút bớt gạo đi.
Chất Đạm:
Chất đạm cấu tạo tế bào, là thành phần của các hoóc môn, tham gia vào các quá trình chuyển hóa trong cơ thể, giúp trẻ tăng trưởng và phát triển trí não. Nếu chế độ ăn thiếu chất đạm, trẻ sẽ còi cọc, chậm lớn, kém thông minh. Nhưng ăn quá nhiều chất đạm cũng không tốt vì sẽ gây gánh nặng cho thận, lại gây táo bón. Trong bữa ăn, đạm chỉ được hấp thu tốt nhất khi có tỷ lệ cân đối với bột đường và chất béo. Vai trò của rau xanh cũng rất quan trọng, việc thiếu rau xanh sẽ hạn chế hấp thu đạm.

Trẻ cần 2-2,5 g đạm/kg cân nặng mỗi ngày. Số gam đạm trong 100 gam thực phẩm là: thịt lợn hoặc thịt bò, thịt gà nạc có 20-21 g; cá, tôm cua (đã trừ phần thải bỏ) 16-18 g; trứng gà (vịt) 13-14 g; đậu phụ 9 g. Như vậy, một ngày trẻ cần khoảng 120-150 g thịt hoặc 150-200 g cá, tôm hoặc 300 g đậu phụ, nếu ăn trứng thì một quả trứng gà có lượng đạm tương đương với 30 g thịt nạc.
Chất Béo:
Dầu và mỡ cung cấp năng lượng trong bữa ăn của trẻ, làm cho thức ăn lỏng mềm, tạo cảm giác ngon miệng. Nó cũng là dung môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, E, K. Các vitamin này chỉ hấp thu được khi chế độ ăn có đủ dầu mỡ. Ở lứa tuổi 1-3, trẻ cần khoảng 30-40 g dầu mỡ một ngày, cụ thể một bát bột hoặc cháo cần cho 1-2 thìa cà phê dầu hoặc mỡ. Nếu trẻ đã ăn cơm thì cho dầu và mỡ vào xào, rán thức ăn.
Nên cho trẻ ăn cả dầu và mỡ, nhất là mỡ các loại gia cầm như gà, ngan, vịt… vì chúng chứa nhiều axit béo chưa no cần thiết cho sự phát triển của trẻ, nhất là các tế bào não.
Các Chất Vitamin:
Vitamin A cần cho sự tăng trưởng, bảo vệ da, niêm mạc, tăng sức đề kháng của cơ thể, chống các bệnh nhiễm khuẩn, bảo vệ mắt, chống quáng gà và các bệnh khô mắt. Nhu cầu vitamin A ở lứa tuổi này là 400 mcg/ngày. Vitamin A có nhiều trong gan, trứng, sữa, dầu gan cá, gan cá biển; dầu cọ, dầu đậu tương, dầu ngô, đu đủ, xoài, cà rốt, bí ngô, gấc, rau ngót, rau muống, rau giền.
Vitamin D giúp cơ thể hấp thu canxi, phốt pho để duy trì và phát triển hệ xương, răng vững chắc, chống bệnh còi xương ở trẻ em. Nhu cầu vitamin D là 400 UI/ngày.
Vitamin C tăng cường hấp thu sắt, chống bệnh thiếu máu, giữ cho thành mạch vững chắc, chống bệnh chảy máu chân răng. Nhu cầu vitamin C là 30-60 mg/ngày.

Các Chất Khoáng:
Canxi, phốt pho giúp cho việc tạo xương, tạo răng, đảm bảo chức năng thần kinh và sự đông máu bình thường. Mỗi ngày trẻ cần 500-600 mg canxi. Chất này có nhiều trong sữa, các loại tôm, cua, cá, trai, ốc… Phốt pho có nhiều trong các loại cây ngũ cốc. Giữa canxi (CA) và phốt pho (P) phải có một tỷ lệ thích hợp thì trẻ mới hấp thu được. Tỷ lệ CA/P trong sữa mẹ là phù hợp nhất (bằng 1/1,5) nên trẻ bú sữa mẹ ít bị còi xương hơn trẻ uống sữa bò.
Canxi và phốt pho muốn hấp thu và chuyển hóa được lại phải có vitamin D, có rất ít trong thức ăn (sữa mẹ, lòng đỏ trứng và gan). Dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời vào buổi sáng, tiền vitamin D ở dưới da sẽ chuyển thành vitamin D. Cho nên muốn phòng chống còi xương ở trẻ, ngoài việc ăn uống đầy đủ, phải cho trẻ ra ngoài trời tắm nắng vào buổi sáng.
Sắt rất cần cho sự tạo máu để phòng chống thiếu máu. Nó còn tham gia vào thành phần các men ôxy hóa khử trong cơ thể. Sắt có nhiều trong các loại thức ăn động vật như tim, gan, thận, đậu, đỗ và các loại rau có màu xanh thẫm. Sắt trong thức ăn động vật dễ hấp thu hơn trong thực vật; nhưng các loại rau xanh lại chứa nhiều vitamin C , giúp tăng cường hấp thu sắt. Vì vậy, nên cho trẻ ăn cả 2 loại.
Kẽm giúp chuyển hóa năng lượng và hình thành tổ chức. Kẽm tham gia vào các men chuyển hóa trong cơ thể, giúp trẻ ăn ngon miệng và phát triển tốt. Khi bị thiếu kẽm, trẻ thường kém ăn, rối loạn vị giác, chậm liền vết thương, rối loạn giấc ngủ, chậm phát triển về chiều cao. Kẽm có nhiều trong các loại thức ăn động vật như thịt, cá; các loại nhuyễn thể như trai, hến, sò huyết. Các loại ngũ cốc, rau quả cũng chứa nhiều kẽm nhưng giá trị sinh học thấp hơn.
Ngoài các chất dinh dưỡng đã nêu ở trên, cơ thể trẻ còn cần các chất xơ giúp đưa nhanh chất thải ra khỏi đường tiêu hóa, phòng chống táo bón. Chất này có nhiều trong rau xanh và quả chín. 
Trẻ 1-3 tuổi cần uống mỗi ngày 1-1,2 lít nước. Nên uống nước đun sôi để nguội, nước quả, nước rau luộc…, không nên dùng các loại nước ngọt có ga. Đây là biết quyết Dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ từ 1-3 tuổi.

(ThS. Lê Thị Hải – Theo SK & ĐS)

Hướng dẫn nấu súp tôm gà - Cách nấu súp tôm gà

0
Hãy cùng món ngon mỗi ngày học cách nấu súp tôm gà cho bé yêu nhà bạn nhé

Nguyên liệu:

Dầu ăn,

Củ hành tây băm nhỏ,

Cần tây thái nhỏ,

Cà rốt băm nhỏ,

Tỏi băm nhỏ,

Cà chua băm nhỏ,

Chút gạo, muối,

Thịt gà băm nhỏ,

Tôm nõn,

Rau mùi,

Hành lá thái nhỏ.





Cách chế biến:

- Đun nóng dầu ăn, cho hành vào phi thơm, thêm cần tây, cà rốt nấu chừng 5 phút, thêm tỏi nấu 2 phút.

- Cho cà chua và gạo vào, nêm tiêu, muối nấu vài phút rồi cho gà băm nhỏ đun thêm khỏang 5 phút nữa.

- Cho nước dùng gà, để lửa nhỏ chừng 20-30 phút, thêm tôm, đun 5-10 phút.

- Khi ăn, múc ra bát, rắc hành, mùi lên.

Những lý do hưởng đến chiều cao của trẻ nhỏ

0
Theo các nhà chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa, trẻ chỉ có thể phát triển chiều cao tối ưu khi trẻ hấp thu tốt các dưỡng chất. Theo đó, ngoài chế độ ăn uống thích hợp với đầy đủ chất, việc bổ sung thêm các chất men vi sinh có chứa các thành phần như sự kết hợp một cách khoa học của 5 loại lợi khuẩn sẽ giúp trẻ hấp thu tốt, đồng thời hỗ trợ tiêu hóa. Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy rằng, men vi sinh chứa đầy đủ 5 loại lợi khuẩn giúp trẻ hấp thu tối đa dưỡng chất. Nếu thiếu một loại lợi khuẩn cũng sẽ làm giảm khả năng hấp thu ở trẻ.

Lớn lên trong một môi trường thiếu tình cảm gia đình và sự ấm áp của tình mẫu tử cũng có thể khiến chiều cao của trẻ kém hơn so với trẻ đồng lứa.
Chúng ta đều biết rằng chế độ ăn uống, tập thể dục và giấc ngủ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến, chiều cao của trẻ. Nhưng trong thực tế, lớn lên trong một môi trường thiếu tình cảm gia đình và sự ấm áp của tình mẫu tử cũng có thể khiến trẻ phát triển chiều cao kém hơn so với trẻ đồng lứa. Đây là kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi các nghiên cứu viên của Bệnh viện Zhongda, thuộc trường Đại học Đông Nam, Trung Quốc.

Cha mẹ hay cãi nhau, con cái sẽ tăng trưởng chậm

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, những đứa trẻ bị thiếu đi tình yêu của cha mẹ, đặc biệt là sự chăm sóc của mẹ bị tác động xấu tới chiều cao. Những gia đình thường xuyên cãi cọ khiến cho trẻ phải sống trong âm thanh của cuộc cãi vã, kết quả là sự tăng trưởng chiều cao của trẻ bị thấp hơn một vài cm so với những đứa trẻ bình thường khác.


Thiếu tình thương của mẹ sẽ ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ

Theo các nhà nghiên cứu, thiếu tình mẫu tử không chỉ ảnh hưởng đến chiều cao mà còn có thể khiến trẻ bị mắc bệnh “ức chế cảm xúc”. Ức chế cảm xúc ảnh hưởng đến hệ thống chức năng tuyến yên, làm giảm sự tiết hooc môn tăng trưởng.

Những đứa trẻ này do chất lượng giấc ngủ không tốt ( ngủ ngon giấc,  không sâu, dễ bị tỉnh giấc, khi tỉnh giấc lại dễ khóc)... sẽ ảnh hưởng đến sự tiết hóc môn tăng trưởng. Ngoài vóc người thấp bé, trẻ còn phải đối mặt với sự kém phát triển trí tuệ hơn mức bình thường và dễ mắc chứng tự kỷ, hiếu động thái quá, uống nhiều, ăn nhiều, hành vi cũng dễ bị kích động.

Các chuyên gia nhắc nhở phụ huynh nên chú ý theo dõi sự phát triển của trẻ, so sánh sự tăng trưởng của chúng so với bạn cùng lớp, cùng tuổi. Những trẻ có chiều cao không đổi trong thời gian dài, hoặc tần số thay đổi quần áo, giày dép chậm hơn so với trẻ khác thì cha mẹ cần chú ý. Đặc biệt, những trẻ từ 3 tuổi trở lên có mức tăng chiều cao hàng năm dưới 5cm nên thận trọng.

Các yếu tố khác ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ

Ngoài việc thiếu tình yêu thương của mẹ thì các yếu tố khác như thức khuya, thiếu ánh sáng mặt trời, yếu tố môi trường, thiếu dinh dưỡng thiết yếu và dậy thì sớm cũng sẽ ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ.

Sự thiếu hụt dinh dưỡng là một trong những yếu tố ảnh hưởng chính đến chiều cao của trẻ. Trong đó lysine, kẽm, canxi là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xác định chiều cao. Lysine là một “máy gia tốc” hiệu quả bài tiết hooc môn tăng trưởng.

Các loại thực phẩm giàu protein có chứa lysine, chẳng hạn như thịt, gia cầm, trứng, sữa, cá, tôm, sò, sản phẩm từ sữa, đậu, mè đen...

Các loại thực phẩm giàu kẽm bao gồm: hải sản, thịt nội tạng, thịt nạc, lòng đỏ trứng, các loại đậu, đậu phộng, hạt kê, củ cải, bắp cải...
Canxi là thành phần chức năng chính của xương. Thực phẩm giàu canxi bao gồm: sản phẩm từ sữa, đậu nành, cá, hải sản... Ngoài ra, ánh nắng mặt trời cũng có thể thúc đẩy chiều cao.

Afamily

Giúp mẹ chọn thực phẩm ăn dặm giàu chất dinh dưỡng cho trẻ

0
Từ 6 tháng tuổi, bé bước vào giai đoạn ăn dặm. Việc chọn thực phẩm để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ phát triển là vấn đề khiến nhiều bà mẹ bối rối. 

Bữa ăn dặm của bé cần được đảm bảo đủ 4 nhóm thức ăn (bột đường, đạm, béo, chất xơ – vitamin và khoáng chất) để đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng cho trẻ. Ngoài ra, thực phẩm cho bé cũng phải đảm bảo sạch và an toàn, dễ chuẩn bị từ các thực phẩm của gia đình và địa phương, không quá nóng, cay, mặn…
Bắt đầu từ bột dinh dưỡng ăn liền

Nguyên tắc ăn dặm được các bác sĩ khuyến cáo là ăn từ lỏng tới đặc, từ ít tới nhiều để tập cho trẻ làm quen với các thức ăn mới và hệ tiêu hóa của trẻ dần dần thích nghi với chế độ tiêu hóa thức ăn.

Dó đó, giai đoạn khởi đầu, các mẹ có thể sử dụng các thức ăn dặm công nghiệp. Thức ăn dặm có nhiều loại tùy thuộc vào tháng tuổi của bé, trong đó loại chính là bột dinh dưỡng. Các loại này có nhiều mùi vị mặn ngọt khác nhau, được chế biến sẵn, không cần nấu, chỉ cần hòa tan với nước chín ấm sẽ có ngay một bữa ăn ngon lành cho bé. Trong giai đoạn ăn dặm đầu tiên, đa phần các bà mẹ tập cho con ăn bằng bột ngọt pha loãng, sau đó đặc dần. Đây là bước quan trọng để hệ tiêu hóa của trẻ dần dần thích nghi với chế độ tiêu hóa thức ăn.

bo-sung-dinh-duong-cho-tre
Bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ

Thức ăn dặm công nghiệp thông thường được chế biến phối hợp từ các loại nguyên liệu như gạo, đậu, ngũ cốc, rau quả, thịt, cá, trứng, sữa… và đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng với 4 nhóm đạm, béo, bột đường, vitamin và khoáng chất, đầy đủ năng lượng cung cấp hàng ngày cho bé, hợp với khẩu vị của bé.

Giúp mẹ chọn thực phẩm ăn dặm cho bé - Chăm sóc bé - Cách nuôi dạy con trẻ - Chăm sóc trẻ em - Dinh dưỡng & Sức khỏe - Dinh dưỡng cho trẻ em
… đến bột/cháo tự nấu

Khi bé chuyển sang ăn bột mặn, theo các chuyên gia dinh dưỡng, thực phẩm ăn dặm cho bé chính là bột/cháo nấu với đủ 4 nhóm thực phẩm như sau:

- Nhóm cung cấp bột đường: Sử dụng gạo tẻ gạo tám mới, không nên trộn lẫn gạo nếp, ý dĩ, hạt sen, đậu xanh khiến trẻ khó ăn và chậm tiêu. Với trẻ trên 1 tuổi, nên đa dạng thực đơn ăn dặm, có thêm các món: súp khoai tây thịt bò xay, bún, phở, bánh đa… để trẻ hào hứng với bữa ăn.

- Nhóm cung cấp chất đạm: Thịt nạc (lợn, gà), lòng đỏ trứng gà: là những thực phẩm giàu đạm dễ tiêu khuyến nghị dùng cho trẻ khi mới bắt đầu tập ăn dặm. Khi sang tháng thứ 7, cho trẻ ăn thịt bò, cá, tôm, cua.

- Nhóm cung cấp chất béo: Trẻ cần ăn xen kẽ cả dầu thực vật và mỡ động vật (mỡ gà, mỡ lợn…), với tỷ lệ tốt nhất là 1:1. Các loại dầu thực vật nên ăn đa dạng (đậu nành, mè, ôliu, dầu cá hồi…), riêng dầu gấc không nên ăn hàng ngày mà chỉ nên 1-2 lần/tuần để tránh vàng da do thừa tiền vitamin A.

- Nhóm cung cấp chất xơ và vitamin: rau xanh và củ quả. Đây là nhóm hầu như không cung cấp năng lượng nên không cho quá nhiều vào bột cháo của trẻ, làm giảm năng lượng khẩu phần khiến trẻ chậm lên cân. Với trẻ bắt đầu ăn dặm nên cho 1 thìa rau, sau này tăng lên 2-3 thìa rau/bát bột cháo là đủ. Nếu trẻ táo bón có thể tăng cường thêm nhưng không nên quá nhiều. Ngược lại, với trẻ bị thừa cân béo phì rất nên bổ sung tăng cường nhóm này để hạn chế năng lượng.

Một lưu ý quan trọng khi chuẩn bị bữa ăn cho bé là mẹ không cần cho thêm mắm muối, gia vị và chất tạo ngọt. Khi bé trên 1 tuổi, mẹ có thể nêm thêm chút mắm, nhưng nên cho bé ăn càng nhạt càng tốt.

Cùng với cho ăn dặm, mẹ vẫn cần cho trẻ bú càng nhiều càng tốt để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Ngoài ra, mẹ cần lưu ý cho trẻ được uống đủ nước đun sôi để nguội, nước hoa quả tươi và ăn thêm hoa quả để cung cấp đủ vitamin và chất xơ, đảm bảo quá trình tiêu hóa trong cơ thể bé được thuận lợi.

Bữa ăn phụ với pho mát

Một loại thực phẩm bổ sung vừa dùng để nấu cùng cháo và dùng làm bữa ăn phụ mà các bác sĩ dinh dưỡng khuyên dùng chính là pho mát. Pho mát là chế phẩm từ sữa, được kết đông và lên men nên có hàm lượng đạm, chất béo, đặc biệt hàm lượng canxi rất cao, rất phù hợp trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của bé lúc đầu đời. Mẹ có thể cho bé ăn pho mát trực tiếp hoặc nấu cháo, mỗi ngày 1-2 viên (mỗi viên 15g) nhưng nên giảm bớt lượng đạm và lượng dầu mỡ để dạ dày của bé có tiêu hóa hết mà không bị quá tải.

Ngoài pho mát dạng viên, mẹ có thể cho con ăn pho mát hoa quả như một bữa ăn phụ hàng ngày. Hiện trên thị trường, loại pho mát hoa quả đang được nhiều bà mẹ ưa chuộng và lựa chọn là pho mát hoa quả Le Petit Plaisir. Thành phần dinh dưỡng có trong sản phẩm này rất đa dạng, gồm: váng sữa, phoma tươi, hoa quả, canxi.

Đặc biệt, sản phẩm không sử dụng một số chất can thiệp nhằm tăng thời gian bảo quản cho xuất khẩu, được các cơ quan kiểm nghiệm chất lượng của nước Đức chứng nhận chất lượng như sản xuất cho chính thị trường châu Âu.

Dự tính chiều cao của trẻ nhỏ

0


1. Dự tính chiều cao của trẻ nhỏ
Bạn là một cô gái nhỏ nhắn, than hình không cao lắm  và Chồng của bạn có dáng khá cao, ốm và khá gầy. và con bạn còn nhỏ vậy làm sao có thể biết là chiều cao của bé cỡ nào sau khi lớn, nó cao hơn mẹ hay không.
Những phương pháp này có thể cùng tham khảo, đồng thời còn giúp bạn biết được bé phát triển có bình thường hay không, khả năng phát triển chiều cao của bé đến mức nào.
Chiều cao của con trai = chiều cao khi sinh (cm) )÷0.2949

Chiều cao của con gái = chiều cao khi sinh (cm) )÷0.3109

Dùng công thức trên cần lưu ý: Chỉ thích hợp đối với những bé đủ tháng; khi đo chiều cao của thân thể nếu như chuẩn xác đến 0,1cm thì chiều cao dự đoán sẽ càng chính xác hơn.

2. Căn cứ theo chiều cao của bé lúc 3 tuổi

Chiều cao của con trai = chiều cao khi 3 tuổi ×0.545 + chiều cao trung bình của bố mẹ ×0.544+37.69(cm)

Chiều cao của con gái = chiều cao khi 3 tuổi ×0.545 + chiều cao trung bình của bố mẹ ×0.544+25.63 (cm)



3. Công thức dự đoán chiều cao của cơ thể (theo phương pháp di truyền)

Chiều cao của con trai = (chiều cao của bố + chiều cao của mẹ) ×1.08÷2(cm)

Chiều cao của con gái = (chiều cao của bố ×0.923+ chiều cao của mẹ)÷2(cm)

4. Thông qua tuổi xương cốt có thể biết được khả năng chiều cao của bé


Tuổi xương cốt và tuổi tác không phải là một, tuổi xương cốt chính là tuổi sinh vật, có liên quan mật thiết đến chiều cao, thường dùng để ví với sự phát triển và sự trưởng thành của con người.


Phán đoán tuổi xương cốt thường dựa vào chụp X quang, chụp X quang xương cổ tay bên phải của bé, sau đó căn cứ số lượng tổ chức sợi và sụn thể hiện trong X quang và tuổi thực tế của bé có thể xác định được khả năng cao của bé.

Tổ chức sợi, sụn xuất hiện sớm hơn so với tuổi thực tế, chứng minh khả năng bé phát triển chiều cao nhỏ, ngược lại thì khả năng bé phát triển chiều cao rất lớn.

Những phương pháp trên có thể cùng tham khảo, đồng thời còn giúp bạn biết được bé phát triển có bình thường hay không, khả năng phát triển chiều cao của bé, nếu như phát hiện tuổi xương cốt không phù hợp với tuổi thực tế của bé thì khuyên bạn nên đưa bé đến bệnh viện để kiểm tra.

Bệnh viện Nhi

Dinh dưỡng cho bà bầu theo tháng

0
* Dinh dưỡng cho bà bầu - Tháng thứ nhất:

Trong tháng đầu tiên mang thai, bà bầu thường có cảm giác mệt mỏi, khó chịu, chán ăn, vì thế bạn cần chú ý bổ sung chất dinh dưỡng, đặc biệt là ăn nhiều loại thức ăn có chứa protein, sắt

 
bo-sung-dinh-duong-cho-ba-bau
Bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng cho bà bầu
Thịt bò:
Rau má nấu thịt bò viên
Thịt bò cuộn rau củ
Súp khoai tây hầm thịt bò
Nui xào thịt bò

Thịt lợn:

 
Thịt lợn xào hành ớt
Thịt lợn sốt cam
Thịt heo chiên muối ớt
Thịt heo chua ngọt

Thịt gia cầm (Đối với thịt gia cầm, thịt đùi chứa nhiều chất sắt hơn phần thịt ở lườn):
 
Đùi gà xốt tiêu
Đùi gà tẩm xì dầu quế hồi
Thịt gà viên sốt chua ngọt
Thịt gà xào rau củ

Cá và các động vật thân mềm (sò, trai…)
 
Cá hồi xốt dứa
Cá điêu hồng nướng nấm
Cá chim chua ngọt
Nghêu sò cho bà bầu
Sò mai nướng mỡ hành


* Tháng thứ hai:

Thời gian này, cơ thể thai phụ có nhiều thay đổi như: dừng vòng kinh, đau đầu, chóng mặt, hoặc kèm theo nôn nhiều, núm vú và những vùng xung quanh hơi có cảm giác đau.

Thai phụ nên ăn các loại thức ăn dễ tiêu hoá như: bánh mỳ, cháo, nước hoa quả, mật ong…
 
Cháo cá kim châm
Bánh thịt nướng
Sinh Tố Mít
Sinh tố đu đủ


*  Tháng thứ ba:

Tháng thứ ba thích hợp với việc ăn canh gà trống và ăn nhiều các loại thịt, cá, trứng và các loại đậu.
 
Canh đậu quả nấu sườn
Salat ngô và đậu
Đậu bắp xào tôm tươi
Gà cuộn trứng muối
Trứng cá cuộn rong biển hấp


* Tháng thứ tư:

Thai phụ nên ăn làm nhiều bữa. Và lưu ý không nên nhai lệch về một bên hàm và nhai kĩ rồi mới nuốt. Không nên ăn những loại thức ăn chứa các chất kích thích như: rượu, bia... và không hút thuốc lá. Nên ăn những loại thức ăn có chứa nhiều vitamin.

- Vitamin A: Có trong trứng, sữa, tôm, cá, gan các loài động vật. Các loại rau quả có màu đậm (như rau ngót, rau muống, rau dền, rau đay, rau khoai loang, cần ta, gấc, cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài, củ khoai lang nghệ...) có nhiều caroten, khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A.

- Vitamin B1: Có nhiều trong ngũ cốc và các loại đậu (hạt) như gạo, bột mì, bột đậu xanh...

- Vitamin B2: Hạt ngũ cốc toàn phần, thức ăn có nguồn gốc động vật.

- Vitamin B6: có nhiều trong gan bê, ruốc thịt, thịt gà, ngô...

- Vitamin B9 (hay còn gọi là axit  folic) có nhiều trong măng tây, rau xanh, gan, thịt gà, trứng.

- Vitamin PP: Lạc, vừng, đậu các loại, rau ngót, giá đậu xanh, cải xanh, rau dền đỏ, rau bí, thịt, cá, tôm, cua, ếch.

- Vitamin B12: Pho mát làm từ thịt dê và thịt cừu, cá, quả hạnh nhân, cải xoong, dưa bắp cải, sữa tươi, sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành, nước khoáng...

- Vitamin C:  Rau xanh (rau muống, rau ngót, bắp cải, cải xoong), quả chín (cam, chanh, bưởi, xoài, ổi...), khoai tây, khoai lang, củ cải, hành tây, ớt ngọt, rau mùi, ...

- Vitamin D: Dầu gan cá, cá, gan, lòng đỏ trứng, thịt lợn, chất béo của sữa.
Vitamin E: Các loại dầu (dầu hướng dương, dầu lạc, dầu cọ...), rau dền, giá đậu, quả mơ, quả đào, gạo, ngô, lúa mì.
 
Khoai tây nướng phô mai
Phô mai tẩm bột chiên
Tôm xào măng tây rượu vang trắng
Bồ câu hầm nấm hương



* Tháng thứ năm:

Thai ở tháng thứ 5, não bắt đầu phát triển nhanh, vì thế nếu thai phụ ăn quá nhiều thịt sẽ không tốt cho sự phát triển não của thai nhi. Ví dụ: ăn nhiều thịt sẽ khiến cơ thể có nhiều axít, làm cho não của thai nhi không linh hoạt; ăn quá nhiều đường trắng không có lợi cho việc phát triển tế bào ở đại não; nên lựa chọn những loại thức ăn thô như: bột mỳ, bột gạo.
 
Gan heo cuốn lá lốt
Thăn lợn chiên cốm
Bánh trứng cuộn 3 lớp
Bánh anh đào socola


* Tháng thứ sáu:

Thai phụ cần đề phòng thiếu canxi và sắt.

Ở tháng thứ 6, thai nhi sinh trưởng rất nhanh, vì thế trong chế độ ăn uống nên có nhiều lòng trắng trứng gà, bổ sung các chất khoáng cũng như vitamin. Khi đó lượng canxi của người mẹ được thai nhi hấp thụ rất nhiều, rất dễ bị thiếu. Nếu lượng canxi không đủ thì sau này đứa trẻ sinh ra rất dễ bị loãng xương, đau răng hoặc viêm lợi và thai nhi cũng dễ bị gù lưng bẩm sinh. Trong quá trình dưỡng thai, bà bầu chú ý phải cung cấp lượng canxi vừa đủ.

Phụ nữ mang thai 5 - 6 tháng cũng rất dễ phát sinh bệnh thiếu máu, vì lượng máu và sắt cần cho thai nhi sẽ tăng lên gấp đôi. Ngoài ra, cơ thể người mẹ lại thêm dịch vị nên cũng ảnh hưởng đến việc hấp thụ lượng sắt trong cơ thể. Thiếu sắt đối với phụ nữ mang thai hay thai nhi đều rất nguy hiểm, làm cho thai nhi sinh trưởng chậm…Vì vậy, người mẹ mang thai cần hấp thụ một lượng sắt cần thiết.

Trong các loại rau như: cải trắng, hồng tây, khoai tây, các loại đậu chế biến đều chứa nhiều chất sắt, canxi và vitamin, đặc biệt ăn nhiều thịt nạc, thịt gia cầm, gan và tiết động vật cùng các loại trứng, hạt vừng, bột, hoa quả… Các loại thực phẩm này có nhiều chất sắt, vitamin C, rất có lợi cho sự bổ sung chất sắt trong cơ thể người mẹ và thai nhi. Chỉ cần trong khi ăn uống, người mẹ có ý thức tăng cường hàm lượng chất sắt, canxi thì có thể dự phòng được bệnh thiếu các chất canxi, sắt.

Phụ nữ mang thai nên tránh ăn quá nhiều dầu béo, chất muối để tránh bệnh phù chân, cao huyết áp và các bệnh về tim mạch.